Phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tri Tôn

Nông - Lâm nghiệp

Phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tri Tôn

22/06/2021

Trong 6 tháng đầu năm 2021, tình hình kinh tế hợp tác ngành nông nghiệp, kinh tế trang trại và liên kết sản xuất trên địa bàn đạt được kết quả như sau:

1. Về hợp tác xã nông nghiệp

1.1. Tình hình phát triển HTX Nông nghiệp:

- Tổng số Hợp tác xã nông nghiệp 22 HTX.

- Ngừng hoạt động: 2 hợp tác xã (Vinacam, Tân Tuyến)

- Đang giải thể: 2 HTX (Thuận Điền, Quyết Tiến)

- Đang hoạt động: 18 HTX.

- Tổng vốn điều lệ: 12,826 tỷ đồng.

- Số thành viên tham gia: 500 thành viên.

- Tổng doanh thu trong năm 2020 ước đạt 8 tỷ 100 triệu đồng, tổng lợi nhuận đạt 1 tỷ 400 triệu đồng, tổng lợi nhuận chia cho thành viên đạt 200 triệu đồng. (chỉ tính 19 HTX đang hoạt động vụ Đông Xuân 2020 - 2021, lợi nhuận thấp do 12 HTX thành lập cuối năm 2020 nên triển khai liên kết với Lộc Trời được 1 vụ Đông Xuân, chủ yếu hưởng hoa hồng từ phân phối giống, vật tư nông nghiệp, thu mua,…)

1.2. Tình hình HTX liên kết sản xuất với các doanh nghiệp:

a) Liên kết với Tập đoàn Lộc Trời:

- Hiện  nay, toàn huyện có 10 HTX tổ chức liên kết SX với Tập đoàn Lộc Trời,  với tổng số 255 thành viên tham gia, tổng vốn điều lệ 4,2 tỷ đồng với tổng diện tích liên kết là 1.400 ha, trong đó liên kết sản xuất lúa giống 400 ha).

+ HTX thành lập trước 2020 liên kết với Tập đoàn Lộc Trời (3 HTX): Lạc Quới, Lương Phi, Tân Thạnh.

+ HTX thành lập trong năm 2020 liên kết với Tập đoàn Lộc Trời (7HTX): Vĩnh Lợi, Lộc Phát, Tân Bình Tiến, Tân Thạnh Lợi, Lương An Trà, An Thạnh, Châu Lăng.

b) Liên kết các doanh nghiệp khác:

- HTX dịch vụ nông nghiệp Bến Bà Chi đã phát triển vùng trồng xoài theo tiêu chuẩn GAP và đã được cấp mã CODE vùng trồng tổng diện tích 62 ha, HTX đã ký hợp đồng tiêu thụ với Công ty Kim Nhung (Tỉnh Đồng Tháp) để xuất bán nước ngoài;

- HTX Tân Tiến hợp tác với HTX Ngãi Tứ - Tỉnh Vĩnh Long sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đan lát từ cây lục bình, tổ chức sản xuất nước mắm cá đồng và đang hoàn chỉnh hồ sơ để tham gia OCOP cấp huyện.

- HTX Vĩnh Gia liên kết với Tập đoàn lộc trời sản xuất lúa với diện tích khoảng 220 ha.

- HTX NN CNC 0207 đang triển khai sản xuất dưa lưới ứng dụng cao trong nhà màng và đã có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.

- HTX NN Tân Tuyến – Tri Tôn đang liên kết với tập đoàn Tân Long sản xuất và tiêu thụ lúa.

- HTX NN Ô Lâm Đang sản xuất xoài theo hướng GAP và đang xúc tiến với doanh nghiệp để ký hợp đồng liên kết.

- Ngoài ra còn có các tổ hợp tác thực hiện liên kết với các Cty như Agimex-kitoku diện tích 82 ha, Công ty TNHH MTV Trịnh Văn Phú 217 ha, các công ty, doanh nghiệp khác liên kết sản xuất lúa giống và lúa chất lượng cao với diện tích 2.500 (Thuận Phát Nông, Kiều tạo, Ngọc chín sơn, giống cây trồng Miền Nam, Hơn số 10, Tân Thành, Cửu Long, giống cây trồng Chợ Mới).

1.3. Hợp tác xã tham gia sản phẩm OCOP:

- Hợp tác xã nông nghiệp Tân Tiến (xã Tân Tuyến) tham gia sản phẩm OCOP cấp huyện, hiện nay đang hoàn thiện hồ sơ để gởi Hội đồng chuẩn bị đánh giá, phân hạng sản phẩm. Dự kiến tổ chức Hội đồng vào tháng 7 năm 2021.

1.4. Vận động cán bộ, công chức tham gia vào hợp tác xã:

Căn cứ Thông báo số 17/TB-VPUBND ngày 15/01/2020 của Văn Phòng UBND tỉnh và Công văn số 1031/SNNPTNT-CCPTNT ngày 09/6/2020 của Sở Nông nghiệp và PTNT. Huyện đã triển khai các văn bản đến UBND các xã, thị trấn và các Hợp tác xã nông nghiệp. Đến nay có 6 HTX có tham gia của cán bộ, công chức, viên chức với tư cách thành viên góp vốn.

2. Về Tổ hợp tác

- 48 THT với 599 thành viên (Số có đăng ký 34 tổ); Số lượng các THT hoạt động hiệu quả đạt 60%.

- Số lao động làm việc trong THT ước 1.000 lao động.

- Tổng số vốn hoạt động, giá trị tài sản của THT ước đạt 100 tỷ đồng.

- Doanh thu bình quân của THT 380 triệu đồng/năm; Thu nhập bình quân của thành viên, lao động của THT ước đạt 45 triệu đồng/năm.

3. Về trang trại:

- Tổng số trang trại trên địa bàn huyện là 23 trang trại (02 trang trại tổng hợp; 14 trang trại trồng trọt; 07 trang trại chăn nuôi).

4. Mục tiêu cụ thể phát triển kinh tế hợp tác, trang trại trong 6 tháng cuối năm 2021

4.1. Về Hợp tác xã:

- Duy trì và phát triển các HTX hiện có gắn với Tập đoàn Lộc Trời, Tập đoàn Tân Long, hình thành các tổ hợp tác gắn Công ty TNHH MTV Trịnh Văn Phú trong sản xuất lúa đặc sản địa phương, Công ty Agimex-kitoku trong sản xuất lúa nhật; Phát triển các HTX trồng cây ăn trái nhất là xoài gắn với các công ty xuất khẩu (phát triển thêm cây xoài keo gắn với tập đoàn Nafoods).

- Hình thành và phát triển các HTX trồng cỏ và cây làm thức ăn chăn nuôi để phục vụ cho Dự án của Tập đoàn TH True Milk, HTX trồng cây cao lương gắn với Tập đoàn Tín Thành, HTX trồng rau màu khu vực Khóm An Bình – TT.Ba Chúc,  thành lập 1 HTX chăn nuôi bò trên địa bàn huyện, Xây dựng phát triển các tổ hợp tác sản xuất đường thốt nốt gắn với sản phẩm OCOP của huyện.

- Tiếp tục hỗ trợ cho thị TT.Cô Tô, TT.Ba Chúc, TT.Tri Tôn hình thành hợp tác xã nông nghiệp theo Kế hoạch số 87/KH-UBND ngày 04 tháng 11 năm 2019 của UBND huyện.

4.2. Về Tổ hợp tác:

- Củng cố và duy trì hoạt động của Tổ hợp tác trên địa bàn huyện.

- Phát triển mới thêm các tổ hợp tác ở những vùng Dự án triển khai để làm nền tảng cho phát triển hợp tác xã sau này.

4.3. Về Trang trại:  Củng cố và duy trì số trang trại trên địa bàn huyện là 23 trang trại (02 trang trại tổng hợp; 14 trang trại trồng trọt; 07 trang trại chăn nuôi).

5. Các giải pháp thực hiện

5.1. Về công tác tuyên tuyền và năng cao nhận thức; Bồi dưỡng, nâng cao năng lực của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị nông sản:

- Tiếp tục các hoạt động tuyên truyền về mục tiêu, sự cần thiết và lợi ích của việc liên kết, hợp tác xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp đến các bên tham gia liên kết (nông dân, HTX, doanh nghiệp…) nhất là nguyên tắc “3 cùng” (cùng tin, cùng làm, cùng chia sẻ) để các chuỗi liên kết giá trị hài hòa về lợi ích giữa các bên tham gia, từ đó mối liên kết này mới mang tính bền vững và có hiệu quả lâu dài.

- Thực hiện tuyên truyền với chủ đề các lợi ích của việc thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản; Phân phối tài liệu “Sổ tay hướng dẫn liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” cho các đối tượng là nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức có liên quan; Phối hợp tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng nâng cao năng lực về chủ đề phát triển hợp tác xã nông nghiệp, tập huấn thực hiện liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đều khắp cho đối tượng tham gia chuỗi.

- Phối hợp với các cơ quan báo đài, cơ quan xúc tiến thực hiện truyền thông về các mô hình thành công trong liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản.

5.2. Về tổ chức thực hiện các chính sách khuyến khích, hỗ trợ liên kết và ký kết hợp đồng trong tiêu thụ nông sản:

- Thực hiện Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 22/7/2019 về việc ban hành Quy định thực hiện chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang.

- Tiếp tục nghiên cứu đề xuất các chính sách phù hợp tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia chuỗi giá trị có hiệu quả và bền vững hơn; Đề xuất bổ sung các đối tượng cây trồng, vật nuôi có thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ và danh mục hỗ trợ để khuyến khích phát triển.

- Tổ chức các lớp tập huấn cho các đối tượng tham gia chuỗi về đàm phán và ký kết hợp đồng thực hiện chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản. Bên cạnh đó sẽ tiếp tục các hoạt động hỗ trợ cho doanh nghiệp/ hợp tác xã xây dựng các dự án/ kế hoạch liên kết để thụ hưởng các chính sách theo quy định.

5.3. Về thu hút và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các chuỗi liên kết nông nghiệp:

- Tăng cường mời gọi doanh nghiệp và thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhằm kịp thời hỗ trợ các nhà đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp; Hỗ trợ doanh nghiệp khảo sát địa bàn xây dựng dự án, và các hỗ trợ liên quan khác.

- Thường xuyên trao đổi thông tin với các doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ các khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị. Đặc biệt là các doanh nghiệp đã thực hiện việc liên kết tiêu thụ (Công ty Angimex-Kitoku, Tập Đoàn Lộc Trời, Công ty TNHH MTV Trịnh Văn Phú, Công ty Antesco, Công ty Chánh Thu, Dược Hậu Giang,…)  và các doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư lâu dài tại địa phương.

5.4. Xây dựng các hợp tác xã, tổ hợp tác thực hiện chuỗi liên kết:

- Thúc đẩy các mối liên kết ngang trong chuỗi giá trị giữa nông dân và nông dân để hình thành các hợp tác xã. Củng cố nâng cao năng lực quản lý, năng lực sản xuất kinh doanh của các HTX tham gia các chuỗi giá trị nông sản.

- Hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia thành lập mới các HTXNN gắn với việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tại địa phương và trở thành HTX điển hình trong việc gắn kết với doanh nghiệp tiêu thụ nông sản.

- Tập trung xây dựng và nâng cao vai trò của HTX nông nghiệp, các tổ hợp tác trong xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp. Đảm bảo các HTXNN hoạt động hiệu quả, đủ năng lực làm đối tác với doanh nghiệp và đại diện nông dân trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.

5.5. Ứng dụng khoa học, công nghệ để ổn định và nâng cao chất lượng, giá trị nông sản:

- Tiếp tục hỗ trợ thực hiện các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm làm tăng giá trị thu nhập trên diện tích sản xuất;  Đẩy mạnh việc ứng dụng theo hướng công nghệ cao có hiệu quả, qua đó từng bước khuyến khích, tạo động lực cho nông dân thay đổi tư duy sản xuất phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn, hướng đến nền sản xuất nông nghiệp hiệu quả và bền vững.

- Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến nông sản để phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng từ lúa gạo, rau màu, cây ăn trái ,… nhằm đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường, cải thiện khả năng liên kết và tiêu thụ nông sản của các tác nhân trong chuỗi.

 

 

VÕ VĂN THANH

Bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026