Thành tựu ngành giáo dục Tri Tôn sau 40 năm

Khoa học - Giáo dục

Thành tựu ngành giáo dục Tri Tôn sau 40 năm

13/10/2019

Ngày 23/8/1979 Hội đồng Chính phủ có Quyết định 300-CP tách huyện Bảy Núi làm hai huyện Tri tôn và Tịnh Biên, huyện lỵ Tri Tôn tại thị trấn Tri Tôn.

Huyện Tri tôn được tái thành lập trong điều kiện nhiều khó khăn phức tạp. Cuộc chiến tranh biên giới diễn ra suốt 3 năm liền, nhiều nhà cửa, tài sản, ruộng vườn bị tàn phá, nhân dân sơ tán khắp nơi. Đời sống kinh tế văn hóa bị đình truệ. Nhiều người dân không còn nơi ăn chốn ở, phải ẩn dật trong rừng, hang, hốc đá. Bên cạnh đó trận lụt lịch sử năm 1978 để lại hậu quả nặng nề, hàng nghìn người rơi vào đói  khổ, phải lên núi đào củ về ăn hoặc sang Campuchia kiếm sống. Khó khăn chồng chất khó khăn vì vậy chuyện học hành của con em lúc bấy giờ là chuyện xa vời.

Với tinh thần cách mạng tiến công, trên cơ sở tự lực tự cường, đảng bộ và nhân dân Tri Tôn đã cố gắng từng bước vượt qua khó khăn thử thách. Trong này đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Phát huy phương châm nhà nước và nah6n dân cùng làm, huy động sức dân đóng góp sửa chữa bàn ghế, cơ sở vật chất, xây dựng mới các lớp học, tạo điều kiện tối thiểu để học sinh đến trường như ở  Tân Tuyến, Lương Phi, Lạc Quới, Vĩnh Gia.

Đến năm 1982, toàn huyện có được 13 trường phổ thông cơ sở và 8 lớp mẫu giáo. Có 227 giáo viên, 7.950 học sinh và  237 cháu theo học. Trong này có 7 trường tiểu học mới cất ở các xã dân tộc với 26 lớp, 940 học sinh và 18 giáo viên.

Đến năm 1985 so với năm 1982 tăng thêm 3 trường, 173 lớp, 198 thầy cô giáo và 6.452 học sinh. Toàn huyện có 418 lớp học. Chất lượng giáo dục có nâng lên rõ nét. Hàng năm các em dđến tuổi đi học ngày càng nhiều, nhưng trường lớp chưa đủ, phải dạy 3 ca/ngày. Số trẻ em thất học vùng dân tộc còn cao… phong trào bổ túc văn hóa khá phát triển ở thị trấn và trong cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên việc giáo dục đào tạo thế hệ trẻ còn chưa tốt, chưa coi trọng đúng mức mối quan hệ giữa bồi dưỡng và khai thác “chất xám” của lực lượng khoa học kỹ thuật.

Bước sang giai đoạn 1986 – 1991, ngành giáo dục huyện Tri Tôn có nhiều chuyển biến tốt. Tình trạng thiếu thầy cô, thiếu lớp học đã khắc phục dần từng bước. Cơ sở vật chất được xây dựng và bổ sung tương đối hoàn chỉnh. Toàn huyện chỉ còn 8 lớp dạy ca ba, giảm 44 lớp so với năm 1986. năm học 1987 – 1988 so với năm học 1985 – 1986  tăng 151 phòng, 125 lớp, 179 giáo viên. Toàn huyện có 517 lớp học. Số lượng học sinh cấp 1 tăng nhiều. Về bổ túc văn hóa phát triển tốt ở một số nơi như  thị trấn Tri Tôn, Ba Chúc và Châu Lăng. Về chất lượng dạy học, kết quả tốt nghiệp phổ thông cơ sở năm học 1987 – 1988 đạt 85,95%, và phổ thông trung học đạt 48%.

Giai đoạn 1991 – 1995, sự nghiệp giáo dục đào tạo của huyện được quan tâm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII của Đảng. Hệ thống trường lớp được sắp xếp lại hợp lý nhằm phục vụ yêu cầu học tập của học sinh. Việc xã hội hóa giáo dục được cấp ủy, chính quyền cơ sở chú trọng và phát động nhân dân hưởng ứng. qua đó góp phần tu sửa những phòng học tre lá thành tường kiên cố, thêm các điểm trường. Giai đoạn này có thêm 50 phòng học được xây mới, tình trạng học ba ca không còn trong năm học 1994 – 1995. Chất lượng và số lượng đỗi ngũ giáo viên có chuyển biến đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục. Mô hình trường lớp dân lập, lớp tình thương, phổ cập được mở rộng, số học sinh mỗi năm đều tăng nhanh. Tỷ lệ học sinh các cấp tăng so với năm học 1990 – 1991 là 5.042 em. Trong này số trẻ em tới tuổi được đến trường đạt 70%. Riêng số học sinh dân tộc khmer tăng xấp xỉ 50% so năm học 1990 – 1991 ở các điểm trường… Phong trào dạy tiếng Khmer, ngoại ngữ và tin học trong nhà trường đã phát triển, thu hút nhiều người tham gia.

Đặc biệt trường THPT dân tộc nội trú An Giang được thành lập tại huyện Tri Tôn từ năm 1992 với đầu vào tuyển sinh lớp 6 và phát triển dần trong 7 năm đến năm học 1997 – 1998 đã có đủ 7 khối lớp từ lớp 6 đến lớp 12, hàng năm tuyển sinh mới 100 học sinh dân tộc vào lớp 6 và 100 học  sinh dân tộc vào lớp 10, chủ yếu tuyển sinh cho 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Vào học trong trường này các em được miễn học phí, ở nội trú và phụ cấp hàng tháng.

Giai đoạn 1995 – 2000, ngành giáo dục huyện Tri Tôn phát triển cả về quy mô, chất lượng, cơ sở vật chất, xóa dần lớp tạm. Các vùng sâu, vùng xa được tỉnh đầu tư xây dựng mới một số trường, phòng học để khỏi bị ngập lũ. Xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục, nên chất lượng không ngừng nâng lên. Kết quả năm học 1999 – 2000 toàn huyện Tri Tôn có tỷ lệ học sinh lên lớp bậc tiểu học 94,5%, bậc trung học cơ sở 95,3%, trung học phổ thông 96,63%. Tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng bậc tiểu học là 5,5%, THCS 12%, THPT là 0,94%. Huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 84,5% hàng năm. Trình độ dân trí được nâng lên huyện đã được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ từ năm 1997. Trường dân tộc nội trú đảm bảo điều kiện học tập, ăn ở nội trú cho 624 học sinh dân tộc Khmer.

Giai đoạn 2000 đến 2015 với quan điểm đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Tri Tôn đã dành sự quan tâm đặc biệt, ưu tiên phát triển giáo dục đi trước một bước. quy mô và chất lượng giáo dục đào tạo không ngừng được nâng lên. Đến năm 2015 toàn huyện có 59 trường công lập từ bậc mầm non đến trung học phổ thông với 974 lớp, hơn 28.300 học sinh và 1.646 học sinh. Cơ sở vật chất đáp ứng được nhu cầu dạy học, hình thức dạy học theo kiểu truyền thống đang được giảm dần qua từng năm. Các phương tiện hiện đại phục vụ cho việc học trên lớp như máy chiếu, máy vi tính, giáo án điện tử, đồ dùng thí nghiệm được đưa vào sử dụng ngày càng rộng rãi hơn. Có 5 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở.

Với mục tiêu nâng cao trình độ văn hóa, đào tạo nghề, giải quyết việc làm tại chỗ cho con em đồng bào dân tộc, góp phần ổn định dân sinh, thu hẹp khoảng cách về trình độ giữa các vùng trong tỉnh, năm 2009 Trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú An Giang được thành lập trên cơ sở nâng cấp từ Trung tâm dạy nghề huyện Tri Tôn. Trường đã đào tạo được 7 nghề trình độ trung cấp, 2 nghề trình độ sơ cấp, 20 nghề cho Lao động nông thôn.Về công tác tuyển sinh. Tính đến cuối năm 2018 trường đã tuyển sinh được 1.302 học sinh trình độ trung cấp, 60 học viên trình độ sơ cấp, 4.348 học viên Lao động nông thôn. Hiện trường đang đào tạo các nghề như trồng trọt và bảo vệ thực vật, cơ điện nông thôn, hàn, điện công nghiệp, kỹ thuật sửa chữa lắp ráp máy tính, quảng trị mạng máy tính.

Do nhu cầu học tập của đồng bào dân tộc trong tỉnh khá cao, để đảm bảo quy mô tuyển sinh cho tất cả các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh, tháng 10/2015 trường THPT dân tộc nội trú An Giang tách thành 2 trường là trường phổ thông dân tộc nội trú THPT  An Giang trụ sở dời về TP. Châu Đốc, tuyển sinh từ lớp 10 đến lớp 12 tất cả học sinh dân tộc trong tỉnh. và trường phổ thông dân tộc nội trú THCS Tri Tôn trụ sở tại xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn tuyển các em học sinh dân tộc các xã thị trấn trong huyện từ lớp 6 đến lớp 9 với quy mô gần 400 học sinh.

Như vậy đến năm 2019 này trên địa bàn huyện Tri Tôn có 15 trường mẫu giáo, mầm non công lập, 26 trường tiểu học, 14 trường THCS, 3 trường THPT là Nguyễn Trung Trực, THPT Ba Chúc và Phổ thông Cô Tô (có 2 bậc THCS và THPT), có 01 trường phổ thông dân tộc nội trú THCS Tri Tôn, và  trường trung cấp nghề dân tộc nội trú An Giang. Trong này có 6 trường đạt chuẩn quốc gia là trường mầm non, trường tiểu học A và trường THCS thị trấn Ba Chúc, trường tiểu học B Lương Phi, trường tiểu học B thị trấn Tri Tôn và trường THCS thị trấn Tri Tôn.

Về Chất lượng giáo dục năm học 2018 - 2019 ở các cấp học đạt 96,73%.  Hoàn thành chương trình bậc tiểu học đạt 99,54% Tốt nghiệp THCS đạt 99,27%. Tỷ lệ  tốt nghiệp Trung học phổ thông quốc gia đạt 99,26%. Huyện duy trì chuẩn phổ cập xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập THCS.

Chất lượng giáo viên không ngừng được nâng lên, đến nay 100% giáo viên ở các bậc học đều đảm bảo trình độ chuyên môn. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy theo chương trình cải cách cho giáo viên được ngành giáo dục tiến hành thường xuyên, có trọng tâm. Bên cạnh đó là việc tổ chức các cuộc thi giáo viên dạy giỏi các cấp, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào giảng dạy cũng có tác động tích cực để nâng cao chất lượng giảng dạy cho giáo viên.

Có thể thấy sau 40 năm tái lập huyện cùng với chăm lo phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, Tri Tôn luôn quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục để không ngừng nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để con em đến trường, cũng như đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Nhiều thế hệ học sinh đã trưởng thành, tiếp tục bước tiếp đại học, cao học trở thành những cử nah6n, kỷ sư, thạc sĩ, nghiên cứu sinh phục vụ lại cho công cuộc xây dựng và phát triển quê hương Tri Tôn và sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Châu Phong

(23/8/1979-23/8/2019)Kỷ niệm 40 năm ngày tái lập huyện Tri Tôn