Tri Tôn phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn nhằm bảo vệ sản xuất nông nghiệp năm 2020 – 2021

Nông - Lâm nghiệp

Tri Tôn phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn nhằm bảo vệ sản xuất nông nghiệp năm 2020 – 2021

29/03/2021

Để chủ động thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn, thiếu nước, xâm nhập mặn đảm bảo nguồn nước phục vụ cho sản xuất và dân sinh các tháng mùa khô năm 2020 – 2021.

Ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn xây dựng Kế hoạch số 10/KH-UBND ngày 20/01/2021 nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do tác động của xâm nhập mặn, hạn hán trong mùa khô năm 2020 – 2021; Có kế hoạch chủ động tổ chức sản xuất, điu chỉnh mùa vụ,  cu cây trồng phù hợp với khả năng cung cp nước đảm bảo phục vụ thng lợi vụ Đông xuân 2020 – 2021 và những vụ tiếp theo. Chủ động điu tiết, dự trữ ngun nước phục vụ sản xut nônnghiệp và nuôi trồng thủy sản; đồng thời cấp nước phục vụ sinh hoạt cho người dân.

Yêu cầu của Kế hoạch là sử dụng tài nguyên nước một cách hp lý, tiết kiệm nước, ưu tiên nước cho sinh hoạt, nước uống cho gia súc, tưới cho cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao; Tt cả các ngành, các cấp phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc phương châm "Bn tại ch" (chỉ huy tại chỗ; Lực lượng tại chỗ; Phương tiện, vật tư tại chỗ; Hậu cần tại chỗ) và "Ba sẵn sàng" (chủ động phòng tránh, ứng phó kịp thời, khắc phục khn trương, hiệu quả, trong đó lấy phòng là chính).

Những Giải pháp phòng, chống hạn hán và xâm nhập mặn trong mùa khô năm 2020 - 2021:

1 Giải pháp trước mắt:

Đối với UBND các xã, thị trấn thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:

          - Khu vực có công trình thủy lợi: tăng cường phối hợp với các đơn vị quản lý thủy nông để xác định khả năng cung cấp nước tưới của các công trình thủy lợi, từ đó có những phương án bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp phù hợp với khả năng cân đối nguồn nước.

          - Khu vực cách xa công trình thủy lợi, khu vực không có công trình thủy lợi, khu vực canh tác dựa vào nước trời, nước hồi quy từ các công trình thủy lợi:

          + Khuyến cáo người dân canh tác một cách chủ động, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lúa sang những cây trồng ít dùng nước, đảm bảo hiệu quả sử dụng đất.

          + Huy động và hỗ trợ nhân dân sử dụng các máy bơm của hộ gia đình bơm nước từ các khe suối, ao, hồ để phục vụ chống hạn; đào giếng các ao hồ nhỏ để cấp nước tưới; khoan giếng để cấp nước sinh hoạt cho nhân dân vùng khô hạn;

          + Chủ động bố trí nguồn vốn địa phương để sửa chữa khắc phục các công trình thủy lợi nhỏ do địa phương quản lý để phục vụ hiệu quả.

          + Thực hiện nghiêm túc kế hoạch chống hạn của địa phương đã xây dựng;

          + Huy động nguồn lực của nhân dân để nạo vét kênh mương nội đồng;

          + Khuyến cáo người dân gieo trồng theo kế hoạch mùa vụ, kế hoạch cấp nước của các cơ quan chuyên môn để thuận lợi cho việc vận hành công trình cấp nước phục vụ sản xuất và đảm bảo tiết kiệm;

          + Tuyên truyền sâu, rộng đến nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

          Đối với các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi:

          - Thường xuyên theo dõi tình hình thời tiết, mực nước hồ các hồ chứa, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để lập kế hoạch sản xuất, khuyến cáo chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại những nơi bấp bênh không chủ động được nguồn nước tưới.

          - Phối hợp với chính quyền địa phương huy động nhân vật lực để phục vụ chống hạn. Hướng dẫn nhân dân có biện pháp tích trữ nước trong ao, đầm để phục vụ tưới và chuyển đổi cây trồng có nhu cầu sử dụng nước ít nhưng hiệu quả kinh tế cao.

          - Thường xuyên duy tu bảo dưỡng máy móc, thiết bị tại các trạm bơm, cửa van điều tiết nước, máy đóng mở. Đối với các trạm bơm đảm bảo tiết kiệm nhiên liệu, điện tận dụng tối đa bơm giờ thấp điểm. Kiểm tra các máy bơm dự phòng được trang bị để chuẩn bị sẵn sàng bơm khi có hạn xảy ra.

          - Quản lý chặt chẽ, điều tiết hợp lý nguồn nước; Sửa chữa gấp những công trình bị hư hỏng nặng không đảm bảo dẫn nước, nạo vét hồ chứa, kênh mương từ nguồn kinh phí sửa chữa thường xuyên của đơn vị, đảm bảo không để rò rỉ, thất thoát nguồn nước.

- Xây dựng và nghiêm túc thực hiện kế hoạch điều tiết nước, kế hoạch chống hạn cụ thể của đơn vị:

          + Đối với các khu vục vùng cao như các trạm bơm Châu Lăng, Lương Phi, Lê Trì, An Tức,…thực hiện nạt vét một số đoạn bị cạn cục bộ, khi mực nước kênh Tám ngàn xuống thấp tổ chức máy bơm ở các đầu kênh tạo nguồn.

          + Đối với các tuyến kênh vùng đồng bằng, tích cực nạo vét những đoạn bị cạn. Nếu mực nước kênh tạo nguồn xuống thấp vận động dân bố trí máy bơm ở các đầu kênh bơm tạo nguồn, kết hợp vận động dân lấy nước xen kẻ lúc triều cường dân cao kết hợp vận hành các cống để giữ nước.

          + Vận động nhân dân không xuống giống trong tháng 2-3/2020 tránh bị khô hạn hoặc chuyển sang trồng các cây trồng cạn sử dụng ít nước như các cây họ đậu, bắp,…

          - Khi tình hình hạn hán xảy ra, mực nước hồ, sông suối bị hạ thấp cần chuẩn bị các máy bơm dã chiến, bơm thuyền để bơm sử dụng dung tích chết của hồ.

          - Vận hành công trình theo đúng quy trình vận hành trong mùa kiệt. Khi xảy ra hạn hán cần thực hiện các biện pháp ưu tiên cấp nước sinh hoạt, cấp nước cho gia súc và cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao.

          - Xây dựng và nghiêm túc thực hiện kế hoạch điều tiết nước, kế hoạch chống hạn cụ thể của đơn vị.

          - Phát động phong trào chống hạn trong nhân dân; tiến hành động viên, khen thưởng kịp thời đối với các đơn vị, tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống hạn hán.

          2 Giải pháp lâu dài:

2.1 Giải pháp phi công trình:

a) Thông tin, tuyên truyền:

- Củng cố, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp.

- Tuyên truyền các phương tiện thông tin đại chúng cho toàn dân hiểu biết về ảnh hưởng của hiện tượng ElNino, tình hình hạn, xâm nhập mặn đến đời sống và sản xuất; khả năng thiếu nguồn nước, nhiểm mặn, ô nhiễm và có thể phát sinh các dịch bệnh.

- Thường xuyên theo dõi tình hình khí tượng thủy văn, thông tin kịp thời đến các địa phương chủ động các phương án đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân một cách an toàn.

- Tại các kênh rạch có khả năng bị nhiễm mặn, các địa phương lưu ý và khuyến cáo nông dân về thời gian bơm nước, đặc biệt tăng cường bơm nước khi có dòng nước không bị nhiễm mặn, hạn chế bơm khi nước trong kênh rạch có thời gian ngừng chảy kéo dài và không được bơm khi có lượng nước từ phía Kiên Giang chảy vào.

- Trên cơ sở nguồn nước tại thời điểm và dự báo của cơ quan khí tượng thủy văn, địa phương phối hợp với ngành chuyên môn chủ động hướng dẫn nhân dân sử dụng giống và bố trí các loại cây trồng hợp lý. Đối với các vùng trồng lúa đảm bảo nguồn nước tưới suốt vụ thì chủ động gieo sạ tập trung thâm canh theo vùng để tiết kiệm nước; Đối với diện tích không đủ nước trồng lúa thì chuyển sang cây trồng khác có nhu cầu nước ít hơn và thời gian ngắn hơn so với trồng lúa; diện tích không có nước chủ động tạm dừng không gieo trồng.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hướng dẫn người dân chuyển đổi cây trồng trên đất trồng lúa kém hiệu quả, cần đa dạng cây trồng phù hợp với điều kiện từng vùng và nhu cầu thị trường để việc chuyển đổi được ổn định lâu dài và hiệu quả.

- Tuyên truyền hướng dẫn nhân dân sử dụng nước tiết kiệm trong sinh hoạt và sản xuất, nâng cao nhận thức và kiến thức về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; Thực hiện nghiêm túc phương án chống hạn ở các địa phương và của các đơn vị cung cấp nước. Ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp tự ý ngăn chặn, đắp, đào xẻ kênh lấy nước không theo kế hoạch tưới.

b) Công tác quản lý vận hành khai thác công trình, tiết kiệm nước và phòng chống ô nhiểm nguồn nước:

- Thường xuyên kiểm tra tình hình xâm nhập mặn, ô nhiễm các nguồn lấy nước của nhà máy cấp nước sinh hoạt.

- Có kế hoạch tích trữ nước tại các hồ chứa nước, chuẩn bị cho công tác chống hạn phục vụ nước sinh hoạt và sản xuất.

- Tổ chức và vận động nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, áp dụng các giải pháp tưới tiết kiệm trong sản xuất.

- Xí nghiệp Điện Nước huyện Tri Tôn và Trạm Thủy lợi liên huyện Tịnh Biên – Tri Tôn phối hợp với các địa phương triển khai biện pháp vận hành hệ thống cống hợp lý để điều tiết, trữ nước vào kênh rạch tạo nguồn phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.

c) Chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi nhằm thích ứng với hạn hán và xâm nhập mặn:

- Đối với lĩnh vực chăn nuôi: Thực hiện tốt công tác thú y, phòng chống dịch bệnh; tập trung hình thức chăn nuôi theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại quy mô vừa và lớn nhằm tăng năng suất và hạn chế dịch bệnh. Có biện pháp che chắn nắng cho đàn vật nuôi, dự trữ rơm, rạ và các loại thức ăn thay thế cỏ, đảm bảo nguồn nước uống tránh để vật nuôi mất sức do thiếu nước.

- Đối với lĩnh vực trồng trọt: Thực hiện việc chuyển đổi giống cây trồng ở những khu vực có khả năng thiếu nước sang cây trồng chịu hạn. Bên cạnh đó, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: Hệ thống tưới phun và tưới nhỏ giọt nhằm thích ứng với sự thiếu hụt nguồn nước tưới tránh thiệt hại do thiếu nước gây ra trên địa bàn huyện. Qua đó, dự kiến diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng chống hạn khoản 1.157 ha ở các khu vực có nguy cơ thiếu nước, tập trung chuyển đổi trồng các loại cây chịu hạn như: Rau dưa các loại, khoai các loại, củ sắn, bắp và đậu các loại. Đồng thời, đối với các diện tích trồng lúa ở các tiểu vùng giáp ranh tỉnh Kiên Giang có nguy cơ bị xâm nhập mặn, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện phối hợp cùng địa phương vận động người dân chuyển đổi các diện tích trồng lúa sang các loại cây trồng chịu mặn và hạn chế xuống giống trong tháng 2 và 3. Bên cạnh đó, kết hợp vận hành 10 trạm bơm cấp 1 và cấp 2 điều tiết nước, tích trữ nước vào các kênh rạch trên địa bàn huyện phục vụ 2.314 ha chống hạn.

2.2 Giải pháp công trình:

a) Quản lý và vận hành hệ thống đập ngăn mặn:

Dự phòng xây dựng các đập tạm phòng chống xâm nhập mặn vào sâu các kênh rạch nội đồng vùng giáp ranh với tỉnh Kiên Giang. Với tổng số 31 công trình đập tạm phục vụ 8.453 ha; tổng chiều dài 1.580 m, khối lượng thực hiện 80.500 m3.

b) Quản lý và vận hành hệ thống thủy lợi vùng cao và các hồ chứa nước:

- Các đơn vị quản lý hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tính toán, cân đối dành nước ưu tiên cho cấp nước sinh hoạt, công nghiệp cho đến hết mùa khô hạn. Theo dõi, nắm bắt tình hình thiếu nước sinh hoạt, đề xuất các biện pháp cấp nước thích hợp.

- Một số hệ thống cấp nước nhỏ lẻ, các giếng nước của dân do ảnh hưởng hạn hán không đủ nước, tiến hành các biện pháp như: Ngăn các đập tạm để trữ nước, tăng cường các phương tiện vận chuyển để cấp nước, không để thiếu nước sinh hoạt và bùng phát dịch bệnh do hạn hán kéo dài.

- Vận hành các mô hình hồ chứa nước vùng khô hạn cung cấp nước sinh hoạt thuộc hồ Ô Tà Sóc với dung tích 620.000 m3 phục vụ 150 ha, hồ Ô Thum (Ô Lâm) với dung tích 270.000 m3 với năng lực phục vụ 200 ha, hồ Soài Chek với dung tích 293.000 m3 phục vụ 140 ha.

          c) Xây dựng các công trình phục vụ cho phòng chống hạn, mặn:

Tổng số công trình cần đầu tư để thực hiện công tác phòng chống hạn mặn năm 2020 - 2021 trên địa bàn huyện là 41 công trình nạo vét kênh.

 

 

VÕ VĂN THANH

Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Tri Tôn lần thứ XII, Nhiệm kỳ 2020-2025